Thứ Hai, 7 tháng 11, 2011

thi lên lam đai III

 
Trình độ lam đai đệ nhị cấp
Thi lên: Lam đai đệ tam cấp


1. Võ thuật là gì ?
Võ thuật là kỹ thuật dùng sức (đòn, thế, vũ khí ...) để ứng chiến với người và vật.
Dùng sức bằng kỷ thuật sử dụng Tay là Quyền thuật
Dùng sức bằng kỷ thuật Chân là Cước thuật
Dùng sức bằng kỷ thuật sử dụng: Ðao, Kiếm... là Ðao, Kiếm thuật
Cố nhân thường nói (Thập bát ban võ nghệ) là chỉ sử dụng nhiều thứ vũ khí khác nhau.
2. Võ đạo là gì ?
Võ đạo là đường lối, hệ thống tư tưởng rõ rệt của một môn phái hướng dẫn quan niệm sống cho người học võ.
3.  Một trường dạy võ thuật khác với một trường dạy võ đạo ra sao ?
Một trường dạy võ thuật hướng dẫn người học võ kỷ thuật dùng sức để ứng chiến với người và vật.
Một trường dạy võ đạo, ngoài phần hướng dẫn cho người học võ kỷ thuật dùng sức, còn trau dồi cho họ một quan niệm sống đúng đắn để cho mọi người kính trọng và thành công trong đời sống.
4.  Một phái võ thuật muốn đi đến võ đạo phải có những điều kiện gì ?
Một môn phái võ thuật muốn đi dến võ đạo phải có:
Một tinh thần dân tộc đầy đủ
Một ý thức hệ rõ rệt
Một hệ thống võ thuật toàn diện
Một phương pháp giảng dạy hữu hiệu 
Một thời gian nhất định quảng bá võ thuật.
5.  Vì sao ngành võ nước nhà (Việt Nam) trước đây chỉ đi đến thuật chớ chưa đi tới đạo ?
Sở dĩ ngành võ nước nhà trước đây chỉ đi đến thuật chớ chưa đi tới đạo vì giữa văn và võ có sự phân biệt quá máy móc nên chưa hệ thống hoá những ý niệm tốt dẹp để trở thành một nền võ đạo dân tộc.
6.  Vào thời nào nền võ đạo của dân tộc Việt Nam gần hình thành qua việc thành lập giảng võ đường ?
Năm 1253 đời nhà Trần, giảng võ đường được thành lập song song với Quốc Học Viện, lúc đó nền võ đạo dân tộc gần hình thành.
7.  Thế nào là tính cách Tộc Truyền và Bí Truyền ?
Tộc truyền là chỉ dạy võ trong phạm vi thu hẹp gồm những người trong dòng họ và một vài môn đệ tâm huyết, không truyền bá rộng rãi.
Bí truyền là vị võ sư thời xưa dù tương đắc với học trò đến thế nào bao giờ cũng giữ lại một vài thế võ độc đáo để đề phòng những trường hợp trò phản thầy . Việc giảng dạy có tính chất tình cảm và tùy hứng không đặt thành một chương trình huấn luyện quy mô, rõ rệt. Do đó, các môn võ, thế võ độc đáo mai một theo thời gian, klhông phát triển được.
8.  Từ Vovinam tới Việt Võ Ðạo khác từ Nhu Thuật tới Nhu Ðạo (Nhật Bản) ở những điểm nào ?
Từ Vovinam tới Việt Võ Ðạo khác với từ Nhu Thuật tới Nhu Ðạo ở hai điểm: 
Làng Võ Nhật Bản đã chính thức được hưởng không khí sinh hoạt võ sĩ đạo từ trên hai ngàn năm. Còn ở Việt Nam, mặc dù đã có nhiều thời đại dụng võ nhưng đến lúc xây dựng một nền võ đạo dân tộc, không khí sinh hoạt võ đạo của dân tộc đã mai một, nên cần phải xây dựng lại từ đầu. Ðó là chưa kể sự du nhập của các nền võ thuật ngoại quốc để làm chúng ta bị cuốn hút theo, mà không chú ý đến những gì có tính cách tự lập, tự cường phải dầy công xây dựng.
Nhu đạo chi là giai đoạn phát triển hoàn bị của Nhu Thuật, nhưng Việt Võ Ðạo không phải chỉ là một giai đoạn phát triển hoàn bị của Vovinam, vì nhiệm vụ kết tinh những giá trị võ thuật của Vovinam và xây dựng một ý thức hệ Võ học, Việt Võ Ðạo còn có nhiệm vụ tổng hợp các giá trị võ vật xưa và nay lấy các môn võ hiện đại trên thế giới làm võ liệu nghiên cứu phối hợp cả nhu lẫn cương để hình thành một nền võ đạo cho dân tộc Việt Nam.
9.  Tinh thần võ đạo của Việt Võ Ðạo chủ trương có mấy phần vụ ?
Tinh thần võ đạo của Việt Võ Ðạo chủ trương có 3 phần vụ:
Sống: với tất cả lửa sống tiềm tàng trong tâm thân, phải luôn cố gắng kiện toàn bản thân trên ba phương diện: Thân thể khoẻ mạnh, trí tuệ minh mẩn, tâm hồn cao thượng để trở thành những con người toàn diện giúp ích cho gia đình và xã hội.
Giúp cho người khác sống: Không lấy sự kiện toàn của bản thân làm lợi khí lấn áp, giành giật quyền sống của người khác. Trái lại, phải tôn trọng, giúp đỡ, tạo điều kiện để người khác cùng tiến bộ và hưởng vị sống như mình.
Sống cho người khác: Ðây là phần vụ cao qúy nhất đòi hỏi người VVÐS phải hy sinh một số quyền lợi về vật chất lẫn tinh thần có khi hy sinh cả tính mệnh của mình cho người khác nếu thấy cần thiết, vì cuộc sống của chúng ta liên quan ràng buộc với cuộc sống của mọi người, các nhu cầu chúng ta được hưởng, sự thành công của chúng ta trong cuộc sống đều do mọi người chung quanh hổ trợ, giúp đỡ...
10.  Hãy trình bày mục đích của Việt Võ Ðạo 
Việt Võ Ðạo có 3 mục đích:
Bảo tồn, phát triển và quảng bá võ hoc việt Nam hầu nêu cao tinh thần thượng võ, bất khất của dân tộc. Khai thác trọn vẹn cả hai phần Cương và Nhu của con người để hiển dương môn phái Vovinam Việt Võ Ðạo bằng cách chuốt lọc những thế võ và vật cổ truyền Việt Nam rồi phối hợp, thái dụng mọi tinh hoa võ thuật đã và hiện có trên thế giới.
Thu nhập, nghiên cứu và phát minh các bài, thế võ để tu bổ và xây dựng nền võ học Việt Nam ngày càng phong phú hơn.
Huấn luyện môn sinh về ba phương diện: Võ Lực, Võ thuật và tinh thần Võ Ðạo.
11.  Về võ lực, Việt Võ Ðạo huấn luyện môn sinh ra sao ?
Về Võ Lực VVÐ huấn luyện cho môn sinh một thân hình rắn rỏi vững vàng, một sức lực mạnh mẽ dẻo dai, để có thể chịu đựng mọi khó khăn cực nhọc, đẩy lùi các bệnh hoạn, giữ cho thân thể luôn tráng kiện và lành mạnh.
12.  Về võ Thuật, VVÐ huấn luyện cho môn sinh như thế nào ?
Về võ thuật VVÐ huấn luyện cho môn sinh một kỷ thuật dùng sức tinh vi để tự vệ hữu hiệu đạt tới một nghệ thuật cao quý để phục vụ con người và sẵn sàng bênh vực lẽ phải.
13.  Về VõÐạo, VVÐ huấn luyện cho môn sinh những gì ?
Về Võ Ðạo VVÐ rèn luyện cho môn sinh một tâm hồn cao thượng, một ý chí quật cường, một phong thái hào hiệp, một tinh thần kỷ luật tự giác, một nếp sống hợp quần trong tinh thần đồng đạo, một truyền thống hy sinh cao cả. Một đức độ khoan dụng từ ái để phục vụ hữu hiệu cho bản thân, gia đình, dân tộc và nhân loại.
14.  Ðể thực hiện các mục đích trên VVDS hoạt động theo các tôn chỉ nào ?
Ðể thực hiện ba mục đích nêu trên, môn phái Vovinam Việt Võ Ðạo chủ trương hoạt động theo 5 quan điểm sau:
Mọi hoạt động của môn phái Vovinam Việt Võ Ðạo đều xây dựng trên nền tảng lấy con người làm cứu cánh, lấy đạo hạnh làm phương châm, lấy kỷ thuật và ý chí quật cường làm phương tiện.
Môn phái Vovinam Việt Võ Ðạo là một đại gia đình trong đó các môn đồ thương yêu kính trọng lẫn nhau sự kính trọng và lòng thương yêu ấy đan kết thành kỷ luật môn phái, một giềng mối vững chắc giúp các môn đồ đoàn kết chặt chẽ để nêu cao danh dự môn phái và trở thành những con người toàn diện. 
Môn phái Vovinam Việt Võ Ðạo luôn luôn tích cực góp phần vào mọi cuộc giáo dục thanh thiếu nhi.
Mọi hoạt động của môn phái vovinam việt Võ Ðạo đều không có tính cách chính trị và tôn giáo.
Môn phái Vovinam Việt Võ Ðạo luôn luôn tôn trọng các võ phái khác để cùng xây dựng một nền võ học Việt Nam với tinh thần võ hữu thật sự.
15.  Hãy giải thích đại cương nguyên lý "Cương Nhu Phối Triển":
Theo nghĩa thông thường, Cương là Cứng rắn, Nhu là mềm dẻo Trong võ học, các phái thiên về Cương có kỷ luật cứng và mạnh, lấy sức làm chính, cách sử thế hùng dũng quyết liệt, uy nghiêm. Các võ phái thiên về Nhu có kỷ luật linh hoạt uyển chuyển ít dùng sức cách xử thế hoà nhả, khiêm cung, tế nhị. Các môn sinh Việt Nam trước đây không theo cương hay nhu nhất định, nó biến hóa linh động tùy theo thể tạng mổi người, mổi địa phương. Nhận thấy trong cây tre Việt Nam, có cương, nhu có cả cứng rắn và mềm dẻo, có cả bền bỉ và gai góc. Tóm lại nó hội đủ hai tính Cương Nhu hợp thành một thể thống nhất, nó rất giống với bản chất và tính tình con người Việt Nam.
Từ sự quan sát đó, sau khi nghiên cứu sâu sắc nhiều nghành võ thuật trên thế giới và dân tộc, cố võ sư sáng tổ Nguyển Lộc đã lấy định luật (Cương Nhu Phối Triển) làm nguyên lý cho Vovinam Việt Võ Ðạo. Cương Nhu phối triển không chỉ đơn thuần là một sự bao hàm cả hai tính cương và nhu mà thật sự nó linh hoạt biến hóa vô cùng. Lúc thì Cương nhiều Nhu ít, lúc thì Cương ít Nhu nhiều. Lúc vừa Cương vừa Nhu tùy theo mỗi hoàn cảnh và mỗi tình huống. 
16. Tác phong là gì ?
Tác phong là tất cả những gì biểu lộ ra bên ngoài của một con người, như lề lối làm việc, học tập, cách ăn mặc, nói năng, đi đứng...
17.  Vì sao VVÐS phải giử gìn tác phong ở mọi nơi trong mọi trường hợp?
Ở mọi nơi, trong mọi trường hợp vì người khác nhìn vào tác phong để phán đoán và đánh giá nhân cách của mình cùng danh dự môn phái.
18. VVĐS cần tránh mấy điều xấu ? hãy kể ra.
VVÐS cần tránh 5 điều xấu là;
Tránh huênh hoang tự đắc rằng mình là người (có võ) ở giữa đám đông, nơi công cộng.
Tránh dèm pha thanh danh các võ phái khác vì đó là thái độ vô ý thức dễ gây ra ngộ nhận để môn phái mang tiếng.
Tránh mọi hành động khiêu khích để người khác có thể hiểu lầm rằng môn phái chúng ta cốt huấn luyện võ sinh đi gây chuyện với thiên hạ.
Tránh mọi sự đụng độ vô lý, chỉ cốt lấy le với mọi người trong một lúc.
Tránh tinh thần quốc gia quá khích, bài xích môn võ nước ngoài du nhập, dù người đối thoại là bạn thân hay người nhà.
19. VVÐS cần làm mấy điều tốt ? hãy kể ra.
Có 5 điều tốt VVÐS cần làm là:
Thực tập tinh thần VVÐS trong đời sống hằng ngày để được sự mến phục của người khác.
Gây tình cảm thân hữu với các võ phái khác để họ hiểu ta quý mến ta, sẳn sàng hợp tác với môn phái ta trong việc phát triển võ thuật và võ đạo.
Sốt sắng trong công việc không chờ nhắc nhở.
Dám nhận trách nhiệm, tận tâm giúp đỡ người, không so bì hơn thiệt.
Ôn luyện, học hỏi không ngừng để tiến bộ.
20.  Tác phong của VVÐS khi học tập ra sao ?
Khi học tập, VVÐS phải tôn trọng kỷ luật, kính thầy và yêu bạn.
Tôn trọng kỷ luật: Tự giác tôn trọng nội quy của môn phái, hội và võ đường.
Kính thầy: Lúc đến và ra về phải chào võ sư và huấn luyện viên theo nghi thức VVÐ. Chăm chú theo dõi và tuyệt đối tuân theo lệnh của VS và HLV trong học tập và trong sinh hoạt.
Yêu bạn: Vui vẻ hoà nhã với đồng môn, nếu bạn yếu kém phải nương tay, chỉ dẫn, khuyến khích bạn, săn sóc khi bạn bị té đau, bị đau vì bạn lở tay đánh mạnh cũng không cáu kỉnh giận dữ, tránh tranh luận ồn ào, cướp lời bạn một cách lỗ mản, tuyệt đối tránh những đố kỵ, thù hằn.
21. Trong gia đình VVÐS phải cư xử như thế nào ?
Trong gia đình VVÐS phải kính mến người trên,yêu mến người ngang hàng, nhường nhịn người dưới.
Kính mến người trên là lễ độ và vâng lời dạy bảo, nếu người trên có điều gi sơ suất thì tìm cách khuyên lơn nhẹ nhàng.
Yêu mến người ngang hàng là chí tình, vui vẻ và hoà thuận.
Nhường nhịn người dưới là rộng lượng, tận tâm chỉ bảo với thái độ hoà nhã. Tuyệt đối tránh dùng võ khí khi trong gia đình không may có chuyện bất hoà.
22. Tác phong của VVÐS khi làm việc ra sao ?
Khi làm việc, VVÐS phải ghi nhớ tác phong con nhà võ với tinh thần Việt võ Ðạo là thận trọng nhưng mau lẹ. Muốn thế, phải phân công việc ra 3 giai đoạn: Lúc tính việc, lúc vào việc, và lúc xong việc.
23. Lúc tính việc phải có các tinh thần sau:
Tinh thần thực tiễn: Nắm vững các sự kiện, không suy luận mò mẫm, phí phạm thời gian bàn cãi vô ích, có kế hoạch làm việc và tính toán hiệu quả công việc.
Tinh thần xung phong: Dám nghĩ, dám làm, chịu thử thách, không chần chừ do dự, sợ khó, ngại khổ.
Nhiệt tình: là tình cảm sốt sắng với người và việc, hăng hái gánh vác công việc với tất cả nhuệ khí tuổi trẻ.
Chí công vô tư: Nhìn thẳng vào sự việc, đặt nghĩa vụ chung lên trên quyền lợi riêng, không thành kiến, mặc cảm cá nhân.
24. Lúc vào việc phải làm việc với tinh thần và phong cách ra sao ?
Quyết tâm: Ðã quyết định xong phải bắt tay vào việc ngay, thực hiện cho bằng được dù phải trải qua nhiều thời gian thử thách.
Mau lẹ: giải quyết công việc nhanh gọn.
Tháo vát: Ứng biến hữu hiệu khi hoàn cảnh thay đổi (cần nhớ: tháo vát không phải là hấp tấp, vội vàng, vượt qua ngoài kỷ luật)
Kiên nhẫn: Sẳn sàng chịu dựng mọi thử thách gian khổ, không nản lòng thối chí.
Tinh thần trách nhiệm: Làm việc chu đáo, tính toán cẩn thận, dám nhận lấy kết quả dù không tốt về mình, không đổ lỗi cho người khác hay hoàn cảnh.
Tinh thần đồng đạo: Ðặt quyền lợi môn phái lên trên lợi ích riêng tư, không chiếm việc tranh công, gây bè kết nhóm.
Tinh thần bất vụ lợi: Không đòi hỏi, phải tính toán, mặc cả cho cá nhân mình, tự coi mình như người đầy tớ trước chủ nhân.
25. Lúc xong việc, phải kiểm điểm lại như thế nào ?
Tự kiểm: Tự kiểm điểm bản thân, nhìn rõ các ưu khuyết điểm để rút kinh nghiệm.
Kiểm người: Kiểm điểm những cái đúng, cái sai của người cùng làm việc của mình.
Kiểm việc: Xem việc ta làm có những gì ưu điểm để phát huy, có gì thiếu sót để khắc phục, sữa chữa và bồi đắp thêm.
Ðúc việc: suy nghĩ tính toán xem nếu công việc tương tự lại xảy ra một lần nữa ta phải làm thế nào để khá hơn lần trước.
26.  VVÐS phải thể hiện tác phong ra sao khi biểu diễn võ thuật ?
Chỉ có khi nào có sự phân công của môn phái, Hội, chi hội VVÐ Việt Võ Ðạo sinh mới được tham dự các buổi biểu diễn võ thuật. Khi biểu diễn trước hết phải nghĩ đến danh dự môn phái, đem hết tinh thần vào cuộc biểu diễn để truyền vào cảm quan khán giả những đòn thế tinh luyện với sự diễn tả tận tình, hăng say nhưng nhu nhã, dữ dội mãnh liệt mà vẫn uyển chuyển, nhịp nhàng, qua đó biểu dương được những nét độc đáo về võ thuật và võ đạo của môn phái.
27. VVÐS phải thể hiện tác phong ra sao khi biểu diễn võ thuật ?
Khi biểu diễn võ thuật, VVÐS phải thể hiện tề chỉnh thông qua các điểm sau:
Trang: Võ phục trang nhã, sạch sẽ, gọn gàng.
Ðạm: Sắc mặt điềm đạm, vui vẽ.
Tề: Cử chỉ tề chỉnh, đường hoàng.
Lễ: Nói chuyện lễ độ, khiêm nhường.
Kỷ: Triệt để chấp hành kỷ luật cho cuộc biểu diễn do người điều khiển qui định.

28.  Khi giao dịch ngoài xã hội hoặc nơi công cộng, VVÐS phải có thái độ như thế nào?
Khi giao dịch ngoài xã hội hoặc nơi công cộng, VVÐS cần phải.
Tôn trọng nội quy nơi giao dịch, công cộng.
Ôn tồn nhưng không do dự, ba phải, ngại tranh luận
Cởi mở nhưng không bạ đâu nói đấy, tiết lộ hết chuyện nội bộ cho người ngoài biết.
Niềm nở nhưng không nịnh bợ, cầu cạnh, suồng sã.
Khiêm tốn nhưng không khúm núm, quy lụy.
Tuyệt đối tránh khoe khoang là (người có võ).
29.  Khi giao dịch ngoài xã hội hoặc nơi công cộng, VVDS phải đối thoại ra sao?
Khi giao dịch ngaòi xã hội hoặc nơi công cộng trong khi đối thoại VVÐS cần phải:
Ðiều hoà được tình cảm cuả bản thân, không quá sôi nổi, nóng nảy, cũng như không thờ ơ lạnh lùng.
Chú ý lắng nghe để hiểu rõ tâm lý và hoàn cảnh của người đối thoại với mình.
Biết trình bay câu chuyện rỏ ràng, mạch lạc và tế nhi.
Biết cách khéo léo đấu lý và minh chứng để thuyết phục hay làm tê liệt quan điểm của người đối htoại khi cần đến.
Cân tránh nói năng (Ðao to búa lớn) cộc lốc, bươi móc, làm mất sĩ diện người khác.
30.  VVÐS phải cư xử ra sao khi giao dịch ngoài xã hội và nơi cộng cộng ?
VVÐS cần phải có cử chỉ văn minh lịch sự và cư xử quang minh hào hiệp khi giao dịch ngoài xã hội và nơi công cộng, cụ thể là:
a/ Về cử chỉ:
Thẳng thắng, chững chạc.
Biết làm dịu tình hình bằng phong tháio uy nghi, hoà dịu
Biết ứng biến trước nghịch cảnh bất ngờ.
Ung dung và tươi tỉnh
Trang phục sạch sẽ gọn gàng.
b/ Cách đối xử:
Luôn luôn quang minh, hào hiệp, sẵn sàng giúp đỡ mọi người nhất là các công việc nhỏ nhặt thông thường như: Dắt người mù loà, tật nguyền băng qua lộ, nhường chỗ ngồi cho người già yếu, phụ nữ có bầu, tật nguyền trên các phương tiện giao thông (xe, ghe ...) khi chật chội.
Khi gặp những cảnh hổn tạp. lố lăng, phải lẳng lặng rời xa nhưng không dè bỉu, câu nệ thành kiến.
31. VVÐS phải có tinh thần, thái độ như thế nào khi phải tham gia công tác xã hội ?
VVÐS tham gia công tác xã hội vì nghĩa vụ chúng tôi đối với đồng bào, vậy phải giữ đúng tinh thần vị tha, chí công vô tư, bất vụ lợi. Tuyệt đối tránh việc kể ơn hay có thái độ, cử chỉ có thể làm người thọ ơn tủi thân hoặc hiểu lầm việc làm tốt đẹp của tạ Khi tiếp xúc giúp đỡ họ, phải khéo léo giữ gìn ý tứ, hoà nhã và lễ độ.
32. Trong những buổi sinh hoạt nội bộ VVÐS cần phải:
a/ Thân ái: Vì đây là dịp để cho các đồng môn có dịp tìm hiểu nhau từ hoàn cảnh, tài năng đến chí hướng. Cần nhớ thân ái không phải là gây bè kết nhóm tạo sự tỵ hiềm đố kỵ nhau.
b/ Hồn nhiên: Vì có tính cách gia đình, là dịp để cho mọi người có thể phát huy những năng khiếu đặc biệt, tránh bừa bãi tự do quá trớn.
c/ Cởi mở: Vì mục đích sinh hoạt nội bộ là tạo niềm thông cảm giữa các võ sinh để tình đồng đạo mỗi ngày một vững vàng. Tuy nhiên, cởi mở không đồng nghĩa với khoe khoang, phách lối, hợm hỉnh, chọc phá hoặc bới móc lẫn nhau.
d/ Bao dung: vì đây là cơ hội tốt để các đồng môn tương trợ lẫn nhau, giải quyết các hiểu lầm,ngộ nhận. Khi có kinh nghiệm quý báu gì ta nên đem ra phổ biến để mọi người cùng lãnh hội, khi đồng môn có kém điều gì không hay, ta sẵn lòng bỏ qua Nếu thấy cần thiết nên góp ý khéo léo, nhẹ nhàng, cổ vũ khuyến khích để đồng môn tăng thêm nhuệ khí khi thi thố tài năng.



võ đạo thi huyền đai


TRÌNH ÐỘ LAM ÐAI III CẤP
THI LÊN: HUYỀN ÐAI

1. Truyền thống võ học của nhân loại diễn tiến ra sao ?
Truyền thống võ học của nhân loại được diễn tiến qua nhiều yếu tố như địa lý, nhân văn, tình trạng xã hội, tranh đấu sử, trình độ tiến hoá.
2. Có mấy thời kỳ lập võ ? Hãy kể ra và giải thích đại cương.
Có 4 thời kỳ lập võ:
a/ Chiến đấu với cầm thú: vì bản năng sinh tồn khiến người và thú phải tranh đấu để dành lại sự thắng lợi.
b/ Song đấu: võ thuật được coi là lẽ phải để quyết định sự mâu thuẩn của hai người.
c/ Hổn đấu: Kỹ thuật chiến đấu giữa nhiều người với một người, hoặc một người áp đảo nhiều người.
d/ Võ học thâm nhập vào binh pháp: Áp dụng võ học vào quân đội để dựng nước và giữ nước.
3. Do đâu người tiền sử đã chế ra các loại võ như hầu quyền, hổ quyền, mã quyền, điểu quyền, xà quyền, ngưu quyền?
Do kinh nghiệm thường xuyên phải chiến đấu với cầm thú để bảo vệ sự sinh tồn mà người tiền sử đã chế ra các loại võ như kể trên.
4. Loại hầu quyền, mã quyền, hổ quyền, điểu quyền, xà quyền, ngưu quyền có những đặc điểm gì? 
Ðặc điểm của:
a/ Hầu quyền: Lanh lẹ, chờn vờn, đu đưa, nhảy nhót.
b/ Hổ quyền: Chụp xiết, dữ tợn, chớp nhoáng, sấm sét.
c/ Mã quyền: Trá bại hoặc lùi chạy rồi bất thần đánh ngược lại (cùi chỏ, giò lái, đà đao, hồi mã thương...)
d/ Ðiểu quyền: bất ngờ chụp từ trên cao xuống, giương đông, kích tây, hư hư, thực thực.
e/ Xà quyền: Là là mặt đất, uốn mình tránh nhanh, né gọn, vun vút tấn công.
f/ Ngưu quyền: Húc, xiết, khoá dũng mãnh, dùng sức toàn thân lao người vào đối phương (những thế vật).
5. Do đâu ý thức dụng võ chống với cầm thú được chuyển sang ý thức lập võ chống với người?
Do những mâu thuẩn nội tại trong xã hội thị tộc phát sinh như: cưới vợ, chia của, bầu tộc trưởng... mà ý thức dùng võ chống với cầm thú được chuyển sang ý thức lập võ để chống với người.
6. Ðến lúc võ thuật thâm nhập vào binh pháp, song đấu còn ảnh hưởng ra sao? 
Ðến khi võ thuật thâm nhập vào binh pháp, song đấu vẫn còn ảnh hưởng như là quyết định sự thắng bại của một trận đánh lớn (hai vị tướng cầm đầu đánh nhau, tướng bên nào thua trận coi như bên ấy thua luôn, binh sĩ bên thắng ào sang chém giết và thu chiến lợi phẩm.

7. Do đâu phát sinh ra kỹ thuật hổn đấu?
Do tham vọng tranh chiếm càng ngày càng cao, do ý thức về quyền lợi thị tộc cần phải bảo vệ mỗi ngày một lớn mạnh, kỹ thuật hổn đấu đã phát sinh.
8. Thời đại nào đã mở màn cho võ học thâm nhập vào binh pháp? Binh pháp gia đầu tiên của Việt Nam là ai ?
Tại Việt Nam thời đại đồ sắt, võ học mới thực sự thâm nhập vào binh pháp. Binh pháp gia đầu tiên của Việt Nam là danh tướng Lý Thường Kiệt. (trước Lý Thường Kiệt, dân tộc Việt Nam qua nhiều lần thắng ngoại xâm, song đều nhờ ở tinh thần dân tộc cao độ chớ chưa áp dụng được sự biến ảo của binh pháp để thắng đối phương như Lý Thường Kiệt).
9. Truyền thống Việt Võ Học ra sao ? Có mấy phẩm tính ?
Nhờ địa thế, truyền thống võ học VN rất phong phú, tuy nhiên vẫn giữ được bản sắc của một dân tộc đất hẹp, dân ít, chỉ vì tinh thần thượng võ mà trường tồn, do dó truyền thống võ học VN gồm 3 phẩm tính sau:
1/ Hợp với thể tạng người yếu, nhưng gan dạ và các điều kiện địa lý.
2/ Cương nhu phối triển.
3/ Tổng hợp và hoà điệu các ý thức võ học.
10. Vì đâu Việt Võ Học đã tổng hợp và hoà điệu được mọi ý thức võ học trên thế giới? Và đã tổng hợp theo chiều hướng nào ?
Vì địa thế được tiếp nhận thường xuyên với các ngành võ trên thế giới, nên Việt Võ Học đã tổng hợp và hoà điệu được mọi ý thức võ học. Nhưng hòa điệu với chiều hướng thái dụng mọi tinh hoa và tân tiến hoá .
11. Võ thuật có lợi ích gì ?
Võ thuật làm cho thân thể cường tráng khoẻ mạnh, trí tuệ minh mẫn, tâm hồn cao thượng, ngoài ra võ thuật con bảo vệ đời sống con người và là chất liệu để kiến tạo lịch sử.
12. Thời nay võ thuật còn hữu dụng nữa không ?
Với khoa học hiện đại, nhiều người đã nghĩ rằng: Võ thuật không còn hữu dụng nữa, song ta quên rằng có võ khí tối tân mà không có bàn tay lanh lẹ, vững chắc và tinh thần bình tỉnh, dũng cảm điều khiển thì liệu có thành công không? Và dù khoa học có tối tân mấy chăng nữa cũng không thể biến kẻ hèn nhát thành đấng anh hùng. Do đó dù ở thời đại nào, võ thuật cũng vẫn còn hữu dụng.
13. Thời xưa ở Việt Nam và Trung Hoa, võ thuật rất thịnh hành trong giới nào ?
Thời xưa ở Việt Nam và Trung Hoa võ thuật rất thịnh hành trong giới tu hành (các vị đạo sĩ, hoà thượng mở rộng của động hoặc chùa chiền để thâu nhận môn đệ).
14. Võ sĩ đạo Nhật Bản bắt nguồn từ đâu ?
Võ sĩ đạo Nhật bản bắt nguồn từ hệ phái Samourai tức là đoàn ngự lâm quân tuyển chọn trong hàng trai tráng quý tộc, có sức vóc vạm vỡ, được huấn luyện võ thuật đến trình độ tinh vi xuất chúng để bảo vệ Nhật Hoàng, chinh phục phản loạn và nắm quyền thống trị dân Nhật (Samourai chỉ là giai cấp tiêu biểu cho võ sĩ đạo Nhật Bản còn Bushido mới chính nghĩa là võ sĩ đạo).
15. Hãy kể những đồng điểm và dị điểm giữa tinh thần võ sĩ đạo Nhật Bản với Việt Nam và Trung Hoa ?
So sánh tinh thần võ sĩ đạo Nhật Bản với Việt Nam và Trung Hoa ta thấy:
1/ Về đồng điểm: Ái quốc, khí tiết, trọ/ng danh dự, tín nghĩa, kỹ luật, coi nhẹ cái chết.
2/ Về dị điểm: Võ sĩ đạo Nhật Bản thì (Nhập Thế) (tham chánh) tự tôn, tự đại (vì giữ quyền hành) tôn thờ quốc gia qua 1 người, hy sinh cá nhân cho tập thể, khinh thường sự sống.
Còn võ sĩ đạo Việt Nam và Trung Hoa thì (Xuất Thế), ẩn cư nơi non cao rừng thẩm, giang hồ hành hiệp, nay đây mai đó, biết hy sinh cho đại nghĩa dân tộc, chớ không vì một cá nhân, nhưng thiếu thực tế, tiêu cực trong hành động, rất quý sự sống.
16. Quan niệm của chúng ta về Võ sĩ đạo ra sao ? Về các tôn giáo ra sao ?
Quan niệm của chúng ta về võ sĩ dạo ngày nay thật rộng lớn, có thể kể vài nét chính như sau :
Võ sĩ đạo hôm nay, trước hết phải là những con người thực tế, sống sát dân tình, hoà niềm đau thương hoặc vui sướng với toàn thể dân tộc, những con người có hùng tâm đại chí, dám làm và đặt hết niềm tin vào công việc, biết nhìn xa trông rộng, biết hướng về đại cuộc mà không sơ sót kiện toàn từ việc nhỏ, biết nương thời để xây dựng sự nghiệp trường cửu.
Về các tôn giáo, võ sĩ đạo hôm nay nghĩ rằng tôn giáo nào cũng lợi ích cho đời sống tâm linh con người. Bởi vậy chúng ta tôn trọng và công nhận sự tốt lành của tôn giáo, nhưng xa lánh các mê tín dị đoan. Chúng ta dung hợp mọi triết thuyết, mọi tôn igáo, thích ứng đời sống tư tưởng và đời sống hành động.
17. Cái giá trị chân thể của đời sống tinh thần hay vật chất ở đâu?
Cái giá trị chân thể của đời sống tinh thần hay vật chất là ở nơi tu dưỡng (đối với tinh thần) và rèn luyện (đối với thân thể) làm tăng hiệu năng của chúng trong cuộc sống.
18. Môn phái VOVINAM chúng ta xây dựng mẩu người võ sĩ đạo trên bình diện nào ?
Môn phái chúng ta xây dựng mẫu người võ sĩ đạo trên hai phương diện: 
a/ Tinh thần cao cả nhưng thực tế.
b/ Vật chất sung túc nhưng không tầm thường vị kỷ.
19. Ðối với bản thân, người môn sinh phải có mấy phương châm tự luyện? Giải thích đại cương về mỗi phương châm?
Với bản thân, người môn sinh có 3 phương châm tự luyện, đó là: 
Luyện thể - Luyện trí - Luyện Khí
a/ Luyện thể: Là rèn luyện thân thể bằng những phương pháp hô hấp. vận động và trau dồi võ thuật.
b/ Luyện trí: Là mở mang trí tuệ thân thể bằng những phương pháp tự học, quan sát, nhận định, luôn tham gia các cuộc hội ý, hội thảo.
c/ Luyện Khí: Là Rèn luyện thần khí để làm chủ lấy chính mình, để lúc nào cũng thanh thản, sáng suốt ung dung, tự tại.
20. Tại sao người môn sinh phải đối xử tận tình, tận tâm, tận nghĩa với đời? thế nào là tận tình, tận tâm, tận nghĩa?
Người môn sinh phải đối xử tận tình, tận tâm, tận nghĩa với đời sống là để cuộc sống có ý nghĩa hơn, yêu ta hơn, yêu người hơn và dễ dàng gặt hái thành công trong cuộc sống.
a/ Tận tình: Là đối xử với tất cả tình cảm đôn hậu mà mình có với mọi người.
b/ Tận tâm: Là đối xử hết lòng, lúc nào cũng chí thành, chí tín và chí công trong hành động.
c/ Tận nghĩa: Là đối xử có nghĩa, thủy chung với mọi người trong tinh thần võ sĩ đạo.
21. Tại sao người môn sinh Vovinam phải thường khiêm, thường dung, thường liên trong việc đối xử với mọi người trong cuộc sống?Thế nào là thường Khiêm, thường dung, thường liên?
Người môn sinh vovinam phải thường khiêm, thường dung, thường liên trong việc đối xử với mọi người là để cụ thể hóa lòng yêu thương của ta đối với mọi người, để dể dàng thông cảm , xây dựng tình thân ái với mọi người.
a/ Thường khiêm: Là lúc nào cũng khiêm nhường, để được cảm tình của mọi người.
b/ Thường dung: Là lúc nào cũng tiếp nhận, bao dung người (kể cả kẻ thù) luôn luôn tự vấn lương tâm xem có rộng rải, khoan dung, tha thứ người không.
c/ Thường liên: Là luôn luôn liên kết, hoà hợp với mọi người.
22. Muốn tổ chức và kiện toàn đời sống cho xứng đáng với danh dự người Việt Võ Sĩ, môn sinh VOVINAM phải thực hiện những phương châm gì? Thế nào là lập thân, lập chí, lập nghiệp?
Ðể tổ chức và kiện toàn đời sống cho xứng đáng với danh dự người Việt Võ Sĩ, môn sinh VOVINAM phải thực hiện 3 nguyện vọng, dó là Lập thân, Lập chí và Lập nghiệp.
a/ Lập thân: Là gầy dựng cho mình một chổ đứng trong xã hội, trên hai phương diện:
Tinh thần: Luôn luôn học hỏi, phản tỉnh, có thiện chí sửa đổi những lỗi lầm, u mê và bổ túc những tính tốt chân thành và tin tưởng.
Vật chất: Ðời sống no đủ để khỏi nhờ vả, ỷ lại, dựa dẩm vào người ngõ hầu giữ được tinh thần vô tư, độc lập.
b/ Lập chí: Nuôi dưỡng một hoài bảo cao xa và tiến không ngừng.
c/ Lập nghiệp: Xây dựng cho mình một cơ nghiệp để lại cho đời sau.
23Khi nào chúng ta có được đức tính không kiêu hảnh khi thành công, không nản lòng khi thất bại?
Khi chúng ta thiết tha theo đuổi 1 lý tưởng, có cao vọng thực hiện 1 sự nghiệp phi thường, chúng ta sẽ có đức tính không kiêu hãnh khi thành công, không nản lòng khi thất bại.
24. Sự nghiệp và danh phận khác nhau như thế nào? Nếu được lựa chọn chúng ta có thích danh phận hay sự nghiệp?
Danh phận: Ðịa vị sẵn có, có thể thay đổi được, theo thời gian và môi trường sống (ai cũng có danh phận, không lớn thì nhỏ)
Sự nghiệp: Là cứu cánh trong cuộc sống, khung cảnh lớn lao, ích lợi chung cho mọi người, có tính cách lâu dài (công việc ích lợi chung thâu hoạch được kết quả).
Như thế danh phân chỉ là nhịp cầu bước lên sự nghiệp, cho nên khi lực chọn, chúng ta phải lấy sự nghiệp làm cứu cánh và đặt nó lên trên danh phận.

võ đạo thi hoàng đai I


Trình độ Huyền đai Thi lên:  Hoàng đai đệ I cấp

I. Các câu hỏi về tình cảm Vovinam Việt Võ Ðạo

Hỏi 1: Quan niệm của môn sinh vovinam Việt Võ Ðạo về tu thân ra sao?
Ðáp: Tu thân là cách mạng tâm thân, là thường xuyên và liên tục:
Hàm dưỡng ý chí
Mở mang kiến thức
Trau dồi đức hạnh
Rèn luyện tài năng
Hỏi 2: Phải tề gia như thế nào?
Ðáp: Tổ chức và đặt đúng mối tương quan đối xử, đải ngộ, thông tình đạt lý giữa những phần tử trong gia đình với nhau để gia đình được ổn định hầu có thời giờ và đầu óc để thực hiện lý tưởng của mình đã vạch ra.  Gia đình theo nghĩa hiện đại gồm 3 thế hệ:  Ông bà, vợ chồng, con cái.  Có gia đình cũng sống chung với nhau cả năm đời.  Phải tổ chức sắp đặt sao cho những người liên hệ đó đừng làm trở ngại công việc của ta.
Hỏi 3: Gia đình là gì ? Tình cảm gia đình của môn sinh Vovinam Việt Võ Ðạo ra sao?
Ðáp:  Gia là nhà, đình là sân.
Mới đầu gia đình được hiểu theo nghĩa bất động sản, một đơn vị gia cư gồm có nhà và sân. Sau được hiểu rộng theo nghĩa tinh thần:  đơn vị căn bản của tổ chức xã hội, gồm hai vợ chồng và con cái (tiểu gia đình).  Bởi vậy gia đình là nơi con người sinh trưởng.  Nơi thắm đượm tình bao dung thương mến, và là nền tảng của xã hội.
Tình cảm gia đình đối với người Ðông Phương rất hệ trọng, vì truyền thống tổ chức xã hội Việt Nam là gia đình, chớ không phải là cá nhân như xã hội Tây Phương. Tình cảm gia đình của môn sinh Vovinam Việt Võ Ðạo có thể tóm tắt trong bốn điểm thiết yếu:
Quan tâm, giúp đỡ, săn sóc toàn thể gia đình
Kính trên
Nhường dưới
Yêu mến người ngang hàng
Hỏi 4: Kính mến người trên có phải chỉ cần cư sử lễ độ, vâng lời dạy bảo là phải đạo rồi không?
Ðáp: Chưa đủ, còn phải biết cách thỉnh đạt ý kiến của mình lên người trên một cách tế nhị với mục đích sửa đổi những lổi lầm nếu có, để góp công xây dựng gia đình mỗi ngày một phồn thịnh, hoàn thiện hơn lên trong không khí đầm ấm yêu thương.
Hỏi 5: Hết lòng phụng dưỡng cha mẹ, đã tròn chử hiếu chưa?
Ðáp: Hết lòng phụng dưỡng cha mẹ chỉ là mở đầu đạo hiếu.  Muốn tròn chử hiếu, ngoài sự phụng dưỡng còn phải làm cho cha mẹ vinh hiển về công việc làm của mình (gây sự nghiệp, bảo vệ và phát huy thanh danh gia tộc).
Hỏi 6: Phải nhường dưới ra sao ?  Có phải chỉ cần chiều chuộng che chở và gánh chịu những lổi lầm của họ là đủ thuận thảo rồi chăng?
Ðáp: Nhường dưới không phải chỉ là nhường nhịn người dưới một cách thụ động, mà là nhân nhượng, bao dung người dưới với mục đích giáo dục cảm hoá, khích lệ và hướng dẫn họ mỗi ngày một thêm tốt bỏ xấu, có phẩm cách hơn để sống với một đời sống xứng đáng hơn.
Hỏi 7: Môn sinh Vovinam Việt Võ Ðạo suy nghĩ sao về tình nghĩa sư đệ hôm nay?
Ðáp: Nói chung tình nghĩa sư đệ hôm nay đã suy giảm đi rất nhiều, vì:
Ảnh hưởng của tư tưởng tự do dân chủ tiến bộ.
Ảnh hưởng của các vấn đề xã hội như chiến tranh, sự tiến bộ của kỹ thuật và khoa học, khiến cho con người muốn vượt ra ngoài khuôn sáo cũ, coi trọng trí tuệ, nhẹ niềm tin và giá trị tinh thần.
Hệ thống tổ chức nền giáo dục đã đổi mới, ông thầy ngày nay chỉ là một chuyên viên.  Do đó, về đức độ tuổi tác, kinh nghiệm sống chưa hẳn đã vượt trên người học mình. Một học sinh từ tiểu học lên đến đại học thường qua hàng chục ông thầy.  Tình cảm sư đệ làm sao có thể sâu đậm được.
Ngày xưa, một thầy đồ có khi dạy học trò từ lúc còn để chỏm cho đến lúc thành ông Nghè, ông Cống, giáo huấn cả về nếp sống, cách cư sử ở đời.
Hỏi 8: Muốn tình sư đệ được thiêng liêng thân thiết, thầy trò phải đối xử với nhau ra sao?
Ðáp: Tình sư đệ ngày nay có nồng độ cao hay thấp tùy theo tổ chức giáo dục, tùy theo tư cách cá nhân và cách cư xử giữa thầy trò.
Muốn tình sư đệ thấm thiết, thầy trò phải:
Trước hết, thầy phải xứng đáng là thầy (có tác phong, tư cách, có tinh thần phục vụ cao cả)
Kế đến thầy phải thành thực, tận tâm dạy bảo, thương mến trò, coi trò như gan ruột tay chân.
Ðổi lại, trò phải trung thực, tôn kính, biết ơn và làm vinh danh thầy bằng cách thực nghiệm những điều đã thụ huấn.
Hỏi 9: Quan niệm về tình bạn của môn sinh Vovinam Việt Võ Ðạo ra sao? Có mấy loại bạn? Hảy giải thích đại cương?
Ðáp: Môn sinh vovinam Việt Võ Ðạo quan niệm rằng:  làm người ai cũng có bạn, không có không được.  Bạn là yếu tố mật thiết và quan trọng nối liền đời sống chúng ta với sống xã hội.  Làm sao chúng ta có thể sống cô độc được. Chúng ta cần phải có bạn để làm việc, để chia vui, xẻ buồn.  Tuy nhiên, môn sinh Vovinam Việt Võ Ðạo luôn luôn phải tự cảnh giác để tránh những trường hợp lầm người gây hại lớn cho đời sống công và tư của mình.
Có nhiều loại bạn đại để như:
Bạn tâm giao: Cùng tâm hồn, cùng khuynh hướng, đồng cam, cộng khổ.
Bạn đồng chí: Cùng chí hướng, cùng tư tưởng đấu tranh, cùng theo một mục đích.
Bạn đồng đạo: Cùng tôn giáo hoặc cùng nếp sống, cùng quan niệm xử thế, cùng ý thức hệ tinh thần.
Bạn đồng môn: Cùng học một thầy, một mái trường hay cùng một môn phái.
Bạn đồng nghiệp: Cùng làm một nghề như nhau
Bạn đồng sự: Cùng làm một việc với nhau.
Hỏi 10: Tình bạn nào cao quý nhất trong tất cả các loại bạn?
Ðáp: Bạn tâm giao là bạn cao quý nhất trong tất cả các loại bạn.  Thông cảm và thấu hiểu toàn diện về nhau, coi bạn là chính mình.
Hỏi 11: Muốn có bạn tâm giao, phải cư xử với bạn ra sao?
Ðáp: Muốn có bạn tâm giao, ta phải chí tình, thủy chung, đôn hậu, hiểu rõ bạn về cả tài năng, đức độ, tình cảm và chí hướng; từ ưu điểm đến khuyết điểm để khuyến khích, cổ võ bạn trên đường tiến thủ, tiếp tay bạn khi bạn gặp khó khăn, can gián bạn khi sa vào lỗi lầm.
Hỏi 12: Hãy kể một vài giai thoại tiêu biểu về tình bạn tâm giao ?
Ðáp: Ta có thể chọn một vài giai thoại tiêu biểu như:
Tình bạn của:   
Nguyễn Khuyến - Dương Khuê
Lưu Bình - Dương Lễ
Quản Trọng - Bảo Thúc Nha
Kiến Thúc - Bá Lý Hề 
Nhưng không bao giờ là Bá Nha - Tử Kỳ vì đó là bạn tri âm.
Hoặc như Lưu - Quan - Trương chỉ là những người bạn đồng chí.
Hỏi 13: Thế nào là bạn đồng môn, đồng đạo ? Phải cư xử với nhau ra sao ?       
Ðáp: Bạn đồng môn là những người cùng theo một môn phái, cùng chung một mái trường, song chưa có sự cố kết về tâm hồn; bạn đồng đạo thì ngoài yếu tố cùng môn phái, cùng mái trường còn phải chung một quan niệm xử thế, chung một nếp sống, cùng một tư tưởng, triết thuyết, cùng một ý thức hệ tinh thần.
Bạn đồng đạo vừa có tình anh em ruột thịt, vừa có tình bạn đồng chí.  Do đó, phải luôn luôn tôn trọng cá tính của nhau, với thái độ bao dung, nâng đỡ, che chở và khuyến khích lẫn nhau (khi không còn chung chí hướng thì đường ai nấy đi, chớ không chống đối, thanh toán lẫn nhau)
Hỏi 14: Khi thấy bạn đồng môn đánh nhau bị thua, ta tới can thiệp mới biết bạn trái, có nên bênh bạn đánh người hoặc để Người đánh bạn cho chừa nét xấu đi chăng?
Ðáp: trước hết, phải can hai người , nhã nhặn, chững chạc xin lỗi người dùm bạn; sau đó, giải thích cho bạn thấy lỗi lầm mà sửa đổi.  Nếu bạn còn ngoan cố không chịu lỗi , phải  trình lên người trên để sửa trị.  Trường hợp đối phương thấy họ phải và đã thắng thế nên bất chấp lời xin lỗi và can ngăn của mình cứ xông vào đánh tiếp, thì bắt buộc mình phải can thiệp trong tinh thần tự vệ cứu bạn
Hỏi 15: Thế nào là kẻ thù?  Trường hợp nào có thể tha thứ kẻ thù ?
Ðáp: Kẻ thù là người đối nghịch với ta hoặc về tình cảm hay hành động, làm thiệt hại danh dự hay quyền lợi của ta.  Tuy nhiên, ta có thể tha thứ cho kẻ thù khi họ đã hối lỗi hoặc thất thế, hoặc có nghĩa khí, đởm lược (có thể đưa ví  dụ Hàn Tín luồn khố anh hàng thịt.  Ngũ Tử Tư và Thân Bao Tự, gia Cát Lượng - Lỗ Túc - Chu Du; Dương Hổ (tướng Thục) - Lục Kháng (tướng Ngô)
Hỏi 16: Khi bắt buộc phải đối phó với kẻ thù, ta phải có thái độ và cách đối xử ra sao ?
Ðáp: Phải biểu lộ tinh thần thượng võ của người môn sinh Vovinam Việt Võ Ðạo.  Hào hiệp, khoan hoà, xét lại cường độ của thù hận mà trừng trị tượng trưng, rồi tha thứ, hoà giải để cảm hoá họ.
Hỏi 17: Ðộng cơ nào thúc đẩy người  trong một nước phải thương yêu, bao bọc, giúp đỡ lẫn nhau?
Ðáp: Ðó là tình nghĩa đồng bào, một tình cảm tự nhiên phát sinh từ:
Ý thức quốc gia dân tộc.
Ý thức liên đới cộng đồng tinh thần và vật chất.
Tình yêu quê hương đất nước.
Hỏi 18: Tổ quốc là gì ? Hai tiếng tổ quốc đã gợi lên trong lòng ta những gì ?
Ðáp: Tổ quốc là nước Tổ, bao gồm quốc gia - lịch sữ - dân tộc và di sản tinh thần lưu truyền từ thời lập quốc.
Danh từ Tổ quốc đã gợi lên trong tâm hồn ta:
Những tình cảm sâu đậm về nguồn gốc của nòi giống.
Những hình ảnh thiêng liêng cao quý của tiền nhân trong công cuộc dựng nước và giữ nước.
Trách nhiệm bảo vệ và làm phong phú di sản tiền nhân.
Hỏi 19:  Môn sinh Vovinam Việt Võ Ðạo phải làm gì để nêu cao danh dự tổ quốc?
Ðáp:  Môn sinh Vovinam Việt Võ Ðạo phải cố gắng học hỏi để trở thành những công dân ưu tú, tiến bộ, tận tụy làm việc để phục hưng và phát triển xứ sở, bảo vệ hữu hiệu những truyền thống hào hùng, cao đẹp của tiền nhân.
Hỏi 20: Câu “Tứ Hải giai huynh đệ” gợi  cho ta ý niệm gì ?
Ðáp: Câu “Tứ Hải giai huynh đệ” gợi cho ta ý niệm:
Tình nhân loại:  Không kỳ thị địa phương, chủng tộc, tôn giáo
Tình cảm thâm hậu của vấn đề nhân sinh
Ðức tính cao đẹp: liên tài, quảng giao, bao dung, độ lượng và hào hiệp.
Hỏi 21: Môn sinh Vovinam Việt Võ Ðạo quan niệm ra sao về tình nhân loại ?
Ðáp: Môn sinh Vovinam Việt Võ Ðạo phải quan niệm rằng:
Tình nhân loại là cứu cánh tốt đẹp nhất của con người đối  với tha nhân, và luôn luôn coi mọi người đều bình đẳng trong mọi trách nhiệm và quyền lợi.  Môn sinh Vovinam Việt Võ Ðạo yêu nước, giữ độc lập cho quốc gia, nhưng không quá khích, không suy tôn nòi giống mình là thượng đẳng mà coi rẻ, chà đạp nòi giống khác.
Phục vụ dân tộc và đồng bào là khởi điểm của tinh thần phục vụ nhân loại.  Chấp nhận mọi quan niệm văn hoá - chính trị - xã hội v.v.. giữa quốc gia, trên căn bản bình đẳng và tương thân tương trợ.  Hơn thế nữa, người môn sinh Vovinam Việt Võ Ðạo phải đấu tranh cho hoà bình quốc tế, đem lại niềm an vui công chánh cho toàn thể Nhân loại.  
II. Các câu hỏi về quan niệm tình yêu và tâm lý nam nữ

 Hỏi 22: Quan niệm về tình yêu của môn sinh Vovinam Việt Võ Ðạo ra sao?
Ðáp: Quan niệm về tình yêu của môn sinh Vovinam Việt võ Ðạo là quan niệm điều hợp các yếu tố về tình cảm và lý trí để sống theo Nhiên Luật và Nhân luật với chừng mực, thanh nhã và thắm thiết.
Hỏi 23: Hãy bình giảng về hai quan niệm yêu dưới đây:
A/Yêu là yêu đủ rồi không suy luận, đắn đo gì nữa
B/Yêu là gắn bó, ràng buộc đời sống của người nam và người nữ vào với nhau, nên phải thận trọng cân nhắc kỹ lưỡng.
Ðáp: Quan niệm thứ nhất tuy mang tính chất thuần túy, thơ mộng nhưng nhận chịu ảnh hưởng nhiều ở triết thuyết hiện sinh, hiện đang giao động mãnh liệt vào tâm lý lớp thanh niên nam nữ cuồng loạn, không biết tới ngày mai.
Quan niệm thứ hai mang sắc thái cẩn trọng, sáng suốt, nhưng cũng nhận chịu ảnh hưởng nhiều ở các luyến ái quan: Nho - lão - Phật - Thiên Chúa Giáo, có thể trở nên khô khan, mực thước.
Môn sinh Vovinam Việt Võ Ðạo dung hoà cả hai quan niệm này bằng một quan niệm tình yêu tổng hợp:  Chấp nhận những phẩm chất đặc biệt của tình yêu thuần túy thơ mộng, nhưng luôn hướng về tương lai với ý hướng xây dựng, cẩn trọng, suy luận (Yếu tố hợp nhãn là yếu tố dẫn khởi.  Yếu tố kết hợp mới là yếu tố nuôi dưỡng và triển khai tình yêu)
Hỏi 24: Người ta thường phân loại tình yêu ra sao ?
Ðáp: Người ta thường phân loại tình yêu ra làm 3 loại:
Tình yêu dâng hiến (Amour Oblatif)
Tình yêu chinh phục (Amour Captatif)
Tình yêu thông cảm ( amour de Communion)
Hỏi 25: Thế nào là tình yêu dâng hiến ? Tình yêu dâng hiến bị chi phối bởi tình cảm hay lý trí?
Ðáp: Tình yêu dâng hiến là loại tình yêu lãng mạn, mù quáng, buông thả, hy sinh tất cả cho người mình yêu, vì coi người mình yêu là thần tượng, không suy nghĩ tới hậu qủa, không tìm hiểu người mình yêu có thành thực yêu thương mình không.  Tình yêu dâng hiến hoàn toàn bị chi phối bởi tình cảm.
Hỏi 26: Thế nào là tình yêu chinh phục?  Hảy kể danh tính một vài nhân vật tiêu biểu cho loại Tình yêu chinh phục.
Ðáp: Tình yêu chinh phục là loại tình yêu sử dụng lý trí gần như tuyệt đối bằng vẻ hào hoa, danh vọng hoặc bằng tiền tài, với mục đích chiếm đoạt đối tượng yêu của mình, hoàn toàn ngược lại với tình yêu dâng hiến.  Vài nhân vật tiêu biểu cho loại tình yêu này là: Sở Khanh - Casanova v.v..
Hỏi 27: Thế nào là tình yêu thông cảm? Tình yêu thông cảm vị tha hay vị kỷ?
Ðáp: Tình yêu thông cảm là tình yêu trầm tỉnh, sáng suốt, có tương quan tình cảm và lý trí thắm thiết giữa người nam và người nữ, để cùng hướng về tương lai, chân thành bồi dưỡng và gây dựng cho nhau.  Tình yêu thông cảm rất cao thượng và bình đẳng giữa người và ta, không vị tha mà cũng không vị kỹ (yêu người và được người yêu lại)
Hỏi 28: Muốn xây dựng tình yêu thông cảm phải quan tâm tới những gì?
Ðáp: Phải quan tâm tới những điểm:
Thực tế tìm hiểu nhau và giải quyết những khúc mắc về tinh thần và vật chất:  Có thể tha thứ và dung hợp những tính nết dị biệt của nhau không?  Làm thế nào có phương tiện tiến tới hôn nhân?  Sau khi đã nên đôi bạn phải làm gì để sống?
Tương kính, tương ái (hình thức thì theo thời biến đổi, nhưng tinh thần thì phải triệt để giữ gìn, trau chuốt, có thể mới không khinh khi nhau và tránh khỏi tan vở)
Trình độ văn hoá của đôi bên nam nữ.
Nếp sống và hoài bảo
Tuổi tác
Sức khoẻ
Ðịa vị xã hội của đôi bên (nam-nữ) gia đình
Tín ngưỡng
Lập trường chính trị
Dị biệt chủng tộc
Hỏi 29: Tình yêu không muốn đi tới hôn nhân có bền vững không? Hãy giải thích?
Ðáp: Không. Vì tình yêu là chặng đường chuyển tiếp để đi tới một mục đích nào đó, chớ không phải tình yêu là mục đích cuối cùng.  Cũng ví như đi trên con đường (tình yêu) là để tiến tới một sở cứ nào đó (hôn nhân) nếu không tới sở cứ đã định thì phải rẽ đường khác (tức là tan vỡ).  Vậy hôn nhân là một kết hợp hoàn hảo nhất để nuôi dưỡng và triển khai, thăng hoa tình yêu.
Hỏi 30: Tự tử vì yêu không toại nguyện, có phải là hành động can trường không?
Ðáp: Không, vì đó chỉ chứng tỏ một trạng thái tâm hồn bện hoạn nhu nhược, thụ động, hèn nhát, không dám đương đầu với nghịch cảnh, tranh đấu với hiện tại để biến đổi nghịch cảnh, hầu đạt ước vọng.
Hỏi 31: Hãy giải thích hai trường hợp:
A/Yêu nhau (có ăn nằm như vợ chồng) nhưng không muốn tiến tới hôn nhân.
B/ Hôn nhân nhưng không yêu nhau.
Nếu bắt buộc lựa một trong hai, môn sinh Vovinam Việt Võ Ðạo lựa trường hợp nào? nêu lý do?
Ðáp: Yêu thương ăn nằm với nhau mà không tính tới chuyện hôn nhân chỉ là chuyện cẩu hợp, lừa dối nhau để Thoả mãn dục vọng, trốn trách nhiệm, tình yêu đó chắc chắn sẽ tan vỡ, cả hai sẽ khinh lẫn nhau và xã hội sẽ sụp đổ vì đối phong bại tục.
Ngược lại, hôn nhân mà không yêu nhau thì chỉ lam khổ lẫn nhau với những dằn vật, xung khắc, con cái làm sao yên vui học hành để trở thành những bậc hiền tài cho quốc gia dân tộc?
Tuy nhiên, trong trường hợp bắt buộc, ta nên chọn giải pháp thứ hai vì thực tế đã chứng minh: Ngày xưa, ông bà, cha mẹ ta lấy nhau phần đông có bao giờ tiếp xúc với nhau đâu? (cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy). Thế mà gia đình vẫn có hạnh phúc, con cái vẫn nên người, ít có sự lủng củng ly dị nhau.  Bây giờ trai gái biết nhau trước rồi mới tiến tới hôn nhân vẫn bỏ nhau rất nhiều.
Hỏi 32: Yêu nhau nhưng không hiểu tâm lý nhau thì tình yêu đó có thể bền vững và có hạnh phúc không?  Hãy kể đại cương về những điểm khác biệt tâm lý giữa người nam và người nữ.
Ðáp: Không. Không thể nào có hạnh phúc được. Vì giữa người nam và người nữ có những điểm tâm lý phức tạp, mâu thuẩn; đại cương những điểm đó là:
Nam
Nữ
Lý trí
Tình cảm
Cương quyết
Do dự
Chiếm đoạt
Quên mình
Mạnh dạn
Mềm mỏng
Tổng quát
Tiểu tiết
Rộng rải
Hẹp hòi
Nhìn xa
Biết gần
Hỏi 33: Muốn người bạn lòng chiều theo ý  ta, ta phải làm thế nào ?
Ðáp: Ta phải chiều theo ý họ trước đã, nhưng phải chiều theo hướng: Hướng dẫn và xây dựng, chớ không thụ động, chiều bất cứ một vật gì dù lầm lẫn, xấu xa.
Hỏi 34: Tình yêu đến với người nam ưu tiên từ đâu?  Ðến với người nữ ưu tiên từ đâu?  Muốn tránh sự đổ vỡ và nguy hại cho bản thân cũng như cho người yêu do luật ưu tiên gây ra, người nam và người nữ đối xử với nhau ra sao ?
Ðáp: Tình yêu đến với người nam ưu tiên từ sắc đẹp và sự hấp dẫn của thể xác (tức là vóc dáng bên ngoài của người nữ, đã làm cho người nam chú ý đến trước nhất, sau đó mới nhận xét đến tính nết, hạnh kiểm, trình độ học vấn, địa vị xã hội v.v..)
Tình yêu đến với người nữ ưu tiên từ danh vọng, địa vị, tình cảm (tức là cử chỉ, lời nói dịu dàng, âu yếm chứng tỏ sự quan tâm đặc biệt đến nàng..)
Muốn tránh sự đổ vỡ và nguy hiểm cho bản thân và cho người yêu do luật ưu tiên gây ra, người nam phải săn sóc đến tình cảm của người bạn lòng bằng cử chỉ và lời nói dịu dàng, âu yếm.  Người nữ tránh những trường hợp tâm sự tay đôi ở nơi vắng vẽ để tránh sự sàm sỡ quá trớn có thể xảy ra làm giảm sự cao dẹp, thanh nhã của tình yêu.
Hỏi 35: Khi yêu có phải lúc nào người Nam cũng dành trọn vẹn trái tim cho người bạn lòng như người nữ không?  Trái tim đó thường được phân chia làm mấy ngăn và chứa đựng những gì?
Ðáp: Theo luật phân cách, khi yêu không phải lúc nào người nam cũng dành trọn vẹn trái tim cho người bạn lòng như người nữ.  Vì nhu cầu của đời sống chi phối, trái tim của người nam thường được chia làm bốn ngăn:  Tình yêu - Công việc - Lý tưởng - Giải trí.
Hỏi 36: Thông thường, người nữ thích được người bạn lòng chiều chuộng, tận tụy làm việc để Xây dựng tương lai, hay thích được săn sóc bằng những lời tán tụng, bằng cử chỉ vuốt ve âu yếm?
Hãy suy luận những trường hợp nàng phàn nàn: Chàng chẳng âu yếm nàng vì chàng không hay tán thưởng nàng, dù chàng vẫn chăm lo cho nàng đủ thứ.
Chàng phân trần: Tình yêu chân thành cần gì phải nói, phải khen ngợi rườm rà, việc làm chưa đủ chứng minh sao? Ai đúng - Ai Sai ?
 Ðáp: Thông thường, người nữ thích được người bạn lòng săn sóc bằng những lời tán tụng, và cử chỉ vuốt ve âu yếm song phải chân thành trong ý hướng xây dựng, chớ không hời hợt bằng ngôn từ tán tụng, vuốt ve suông. Trường hợp trên không ai hoàn toàn đúng hay hoàn toàn sai cả, vì tình yêu cần được thể hiện bằng cả hai phần tình cảm và lý trí, nội dung và hình thức đều quan thiết như nhau.  Tình yêu quý trọng ở chân thành song phải được diễn tả bằng ngôn từ và cử chỉ dịu dàng tế nhị.
Hỏi 37: Người nam có thường chú ý đến những chi tiết của sự việc như người nữ không?  Họ chú ý tới những gì ?  Phải xử trí thế nào với người bạn lòng để tránh những hiểu lầm tai hại do luật chi tiết gây ra?
Ðáp: Không.  Người nam ít quan tâm tới những chi tiết của sự việc mà chỉ chú ý tới đại cuộc với nhận xét tổng quát.  Ðể tránh những hiểu lầm tai hại do luật chi tiết gây ra, người nam phải nhẩn nại nghe những mẫu chuyện lặt vặt, biết lưu ý nhắc nhở những kỷ niệm của người yêu, và người nữ cần phải biết thông cảm tới những dự tính lớn lao, xây dựng đại cuộc của người bạn lòng.
Hỏi 38: Trên phương dien xúc cảm, thông thường nhịp độ yêu đương của người nam và người nữ ai bén nhạy hơn?  Tiếng sét ái tình thường xảy ra nơi người nam hay người nữ ? (luật bất đồng cảm).
Hãy suy luận trường hợp: chàng yêu nàng tha thiết, theo đuổi nàng một thời gian,nàng không cự tuyệt nhưng vẫn tỏ ra thơ o lạnh nhạt.  Như thế phải chăng nàng đã không để Ý tới tình yêu của chàng?
Ðáp: Trên phương diện xúc cảm, thông thường nhịp độ yêu đương của người nam bén nhạy hơn của người nữ, tiếng sét aí tình thường xảy ra nơi người nam...(người nam nhà gia thế, có địa vị, có học thức, có thể lấy một người con gái rất nghèo làm vợ, khi hợp nhãn về vóc dáng, hợp ý về tính tình. Nhưng người nữ thì ít khi chịu lấy một người chồng không có tương lai, gia thế, học thức, tiền của kém hơn mặc dầu tướng mạo khôi ngô, tính tình thuần hậu). Trường hợp trên không phải nàng không để ý tới tình cảm của chàng nhưng vì luật bất đồng cảm, cảm xúc của nàng rất chậm, nàng muốn kéo dài sự thử thách để xem chàng có thành thực yêu nàng hay không.  Hơn nữa, vốn bản chất e lệ, thụ động, thêm vào những dè dặt từ giáo dục (gia đình, học đường) và kinh nghiệm (từ thân thích, bằng hữu, chuyện láng giềng, xã hộị..) khiến người con gái giữ bề ngoài lạnh nhạt.
Hỏi 39: Muốn có hạnh phúc trong tình yêu và bảo vệ tình yêu còn mãi mãi, phải xây dựng tình yêu trên mấy nhịp cầu ?
Ðáp: Phải xây dựng tình yêu trên ba nhịp cầu:
Thể xác
Trái tim
Lý tưởng
Vì nói tới tình yêu là nói tới sự kết hợp thể xác, nhưng sự kết hợp về thể xác chỉ có ý nghiã và sự rung động tuyệt dối khi hai người nam và nữ cùng có lòng yêu thương chân thật đối với nhau (sự hoà hợp của trái tim) và lòng yêu thương chân thật ấy chỉ bền vững khi hai người cùng chung một lý tưởng, tức là cùng một hướng nhìn, cùng một quan niệm sống, cách hành xử ở đời.
Hơn nữa, thể xác có ngày mệt mỏi, không ham thích nữa, nếu không có tình yêu thương chân thật ràng buộc, gắn bó dưới sự chỉ hướng của lý tưởng thì tình yêu sẽ tan vỡ và chia lìa.